20. Điệp Vợ Cúng Cho Chồng II

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度往生  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、佳偶天成、良緣夙締、喜當喜雲纒紫府、情何爲異路斷繩、恨也恨雪散朱門、義莫顧中年乘世、情縈萬緒、念切一心、仰祈佛力以冥加、全仗經功而超薦。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。

惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中鑒知收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Giai ngẫu thiên thành, lương duyên túc đế; hỷ đương hỷ vân triền Tử Phủ,1 tình hà vi dị lộ đoạn thằng; hận dã hận tuyết tán châu môn,2 nghĩa mạc cố trung niên thừa thế; tình oanh vạn tự, niệm thiết nhất tâm; ngưỡng kỳ Phật lực dĩ minh gia, toàn trượng kinh công nhi siêu tiến. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.

Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Đẹp đôi trời thành, duyên lành gắn chặt; vui lúc vui mây giăng Tứ Phủ, tình cớ sao nẻo khác đứt dây; hận càng hận tuyết phủ cổng son, nghĩa chẳng đoái trung niên thừa thế; tình xoay vạn mối, nhớ trọn nhất tâm; ngưỡng trông lực Phật gia hộ ngầm, toàn nương kinh văn mà siêu độ. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành nầy, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.

Cúi mong: Nhờ lợi lành nầy, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Tử Phủ (紫府): Đạo Giáo gọi Tử Phủ là nơi cư trú của tiên nhân. Như trong tác phẩm Bão Phác Tử (抱朴子), phần Khư Hoặc (祛惑) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có đoạn: “Cập chí thiên thượng, tiên quá Tử Phủ, kim sàng ngọc kỉ, hoảng hoảng dục dục, chơn quý xứ dã (及至天上、先過紫府、金牀玉几、晃晃昱昱、眞貴處也, lên tận trên trời, trước phải qua Tử Phủ, có sàng vàng ghế ngọc, sáng lạn, rực rỡ, đúng là chốn quý báu vậy).” Hay trong bài Ký Thiên Thai Đạo Hữu (寄天台道友) của Quán Hưu (貫休, 832-912) nhà Đường có câu: “Tử Phủ xưng phi viễn, thanh khê kính bất vu (紫府稱非遠、清溪徑不迂, Tử Phủ đâu xa lắm, khe trong lối cũng gần).” Trong bài Cổ Thanh Lương Truyện Tự (古清涼傳序) của Cổ Thanh Lương Truyện (古清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2098) có đoạn: “Tử Phủ danh sơn, thất Phật sư thê chơn chi xứ, Thanh Lương Thánh cảnh, vạn Bồ Tát mai tích chi phương (紫府名山、七佛師棲眞之處、清涼聖境、萬菩薩晦跡之方, Tử Phủ núi thiêng, ấy chốn bảy Phật thầy tu chơn, cảnh Thánh Thanh Lương, là nơi vạn Bồ Tát ẩn tích).” Hay trong Thiên Như Duy Tắc Thiền Sư Ngữ Lục (天如惟則禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1403) quyển 5, bài Tặng Đệ Nhân Viễn Nhập Kinh (贈弟仁遠入京) có đoạn: “Bạch vân phong tại tịch dương biên, mục tống Ngô vân nhập Sở thiên, nhữ đáo Yến Sơn khước hồi thủ, tam thiên lí ngoại hựu tam thiên, cẩm bào hoa ánh phụng trì minh, ngọc bội quang diêu Tử Phủ thanh, phú quý trước nhân như túy mộng, ỷ môn từ mẫu nhãn trường tinh [tỉnh] (白雲峰在夕陽邊、目送吳雲入楚天、汝到燕山卻回首、三千里外又三千、錦袍花映鳳池明、玉珮光搖紫府青、富貴著人如醉夢、倚門慈母眼長醒, mây trắng đỉnh non bóng xế chiều, trời Sở mây Ngô tiễn bước theo, người đến Yến Sơn quay đầu lại, ngoài ba ngàn dặm lại thêm nhiều, cẩm bào hoa rực hồ phụng sáng, ngọc bội rạng soi Tử Phủ xanh, giàu sang bao kẻ mau tỉnh mộng, tựa song từ mẫu dõi mắt trông).”
  2. Chu môn, châu môn (朱門): cổng son. Thời xưa, vương hầu quý tộc đều sơn nhà màu đỏ; cho nên, về sau từ nầy được dùng để chỉ nhà quý tộc giàu sang. Như trong bài Tự Kinh Phó Phụng Tiên Huyện Vịnh Hoài Ngũ Bách Tự (自京赴奉先縣詠懷五百字) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Châu môn tửu nhục xú, lộ hữu đống tử cốt (朱門酒肉臭路有凍死骨, cổng son hôi rượu thịt, xương chết khắp mặt đường).” Hay trong Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 4, phần Trúc Tiềm (竺潛), lại có câu: “Quân tự đổ kỳ châu môn, bần đạo kiến vi bồng hộ (君自睹其朱門、貧道見爲蓬戶, người tự nhìn ấy cổng son, bần đạo thấy là cửa cỏ).”